Tiếng Việt English  
 

     Giới thiệu
     Phòng nghỉ
     Đặt phòng
     Dịch vụ
     Nhà hàng
     Tin tức
     Góp ý
     Liên hệ

THĂM DÒ Ý KIẾN 
Khách sạn có làm bạn hài lòng?
Rất tốt
Bình thường
Không tốt

 
THỐNG KÊ
1 người đang online.
375765 lượt truy cập.
HỖ TRỢ 24/7
: 84 0543 934777
: thanthien_sp
 

Khách sạn Thân Thiện Friendly Hotel biểu diễn hòa tấu Đàn tranh và Đàn bầu

Kính thưa quý khách,

 

Để từng bước nâng cao chất lượng phục vụ tại KS Thân Thiện, từ ngày 22/12/2011 KS chúng tôi có thêm dịch vụ Hòa tấu âm nhạc với 2 loại đàn: đàn tranh và đàn bầu. Đây là 2 loại đàn đặc trung của Nhã nhạc cung đình Huế, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Thế giới.


Thời gian phục vụ:

Từ 7.30 AM đến 9.00 AM, các ngày trong tuần ngoại trừ thứ 2 và thứ 4.

Tại: Nhà hàng cùng với bữa ăn sáng của quý khách.

Xin quý khách đừng bỏ lỡ cơ hội hiếm có này.

 

Chân thành cảm ơn.

Hotel Manager/Owner

Mr. Nguyen Xuan Thuy, MBA

 

Đàn tranh:

Đàn tranh (chữ Nôm: 檀箏), cũng được gọi là đàn thập lục, là nhạc cụ của người Việt (Kinh). Đàn thuộc họ dây chi gảy. Vì có 16 dây nên đàn còn có tên chữ là Thập lục.

Đàn Tranh hình hộp dài. Khung đàn hình thang có chiều dài 110-120 cm. Đầu lớn rộng khoảng 25-30 cm là đầu có lỗ và con chắn để mắc dây. Đầu nhỏ rộmg khoảng 15-20 cm gắn 16 khoá lên dây chéo qua mặt đàn. Mặt đàn làm bằng ván gỗ ngô đồng dày khoảng 0,05 cm uốn hình vòm. Ngựa đàn còn gọi là (con nhạn) nằm ở khoảng giữa để gác dây và có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh. Dây đàn làm bằng kim loại với các cỡ dây khác nhau. Ngày xưa dùng dây tơ. Khi biểu diễn nghệ nhân thường đeo 3 móng gẩy vào ngón cái, trỏ, & giữa để gẩy. Móng gẩy làm bằng các chất liệu khác nhau như kim loại, sừng hoặc đồi mồi.

Âm sắc Đàn Tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui tươi, trong sáng. Đàn Tranh ít thích hợp với những tính cách trầm hùng, khoẻ mạnh. Tầm âm Đàn Tranh rộng 3 quãng 8, từ Dô lên Dô3.

Đàn Tranh thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc Tài Tử, phường Bát Âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

Theo giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê: Nguồn gốc Đàn Tranh Việt Nam là đàn "Tranh" giống như đàn "Sắt" từ Trung Quốc truyền sang nước Việt có thể từ đời Trần hay trước nữa, dùng trong dân dã dưới dạng 9 dây, 15 dây, 16 dây và từ xưa đến giờ thay đổi số dây từ dây tơ sang dây cước (dây đồng) đến dây thép. Nhưng qua 7, 8 thế kỷ, người nước Việt dùng nó, tạo cho nó một phong cách đặc thù trong thủ pháp, ngón đàn, tay nhấn nhá, trong thang âm điệu thức. Đàn tranh đã thành nhạc cụ hoàn toàn mang tính dân tộc Việt Nam vì đã được người Việt ưa dùng, truyền từ đời này đến đời kia hằng 7-8 trǎm nǎm, phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của người Việt, và nói rõ ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam.

Đàn bầu, tên chữ là độc huyền cầm (獨絃琴), là loại đàn một dây của người Việt, thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Dựa theo cấu tạo của hộp cộng hưởng, đàn bầu chia hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.

Đàn bầu có mặt phổ biến ở các dàn nhạc cổ truyền dân tộc Việt Nam. Các nhạc sĩ Việt Nam đã biên soạn và chuyển soạn một số tác phẩm dạng concerto để nghệ sĩ sử dụng đàn bầu trình tấu cùng với dàn nhạc giao hưởng thính phòng như Vì Miền Nam, Ru con, Tình ca ... Đàn bầu không chỉ được người Việt Nam ưa thích mà còn được nhiều khán-thính giả trên thế giới hâm mộ.[1]